Bình đẳng giới ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn

Thứ bảy - 01/12/2018 22:56
Nhân tháng Bình đẳng giới, BCH Công đoàn trường xin giới thiệu bài nghiên cứu của ThS. Trần Thị Chiên: "Bình đẳng giới ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn"
Đoàn Bộ GD&TT nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thăm và làm việc với trường về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ
Đoàn Bộ GD&TT nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thăm và làm việc với trường về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ

BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Th.S Trần Thị Chiên - Khoa GDCT

Tóm tắt: Nhận thức được vai trò của thực hiện bình đẳng giới, trong suốt quá trình lãnh đạo của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến phụ nữ, coi phụ nữ là nguồn lực quan trọng, thực hiện bình đẳng giới là nhiệm vụ mang tính chiến lược của cách mạng Việt Nam. Mặc dù vẫn còn những hạn chế nhưng những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người ở Việt Nam nói riêng nhân loại nói chung.

Từ khóa: bình đẳng giới, bình đẳng nam nữ. 

1. MỞ ĐẦU
Trong các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội mang tính bền vững, nhân tố con người có vai trò quan trọng, quyết định nhất. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển. Quá trình phát triển sẽ bị hạn chế nếu như một nửa nhân loại là phụ nữ vẫn bị phân biệt, đối xử và kìm hãm sự phát triển. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bình đẳng giới là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Vì thế, bình đẳng giới là một yêu cầu khách quan, một mục tiêu quan trọng cần hướng đến không chỉ của Việt Nam, mà của toàn nhân loại. Nhận thức được điều này nên bình đẳng giới đang là vấn đề quan tâm của toàn nhân loại trong đó có Việt Nam.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới Có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về bình đẳng giới.
Theo Luật bình đẳng giới của Việt Nam, tại điểm 3, điều 5, năm 2006 đã khẳng định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [2; tr.14]. Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu bình đẳng giới là một nội dung của bình đẳng xã hội, khi phụ nữ và nam giới có được vị trí xã hội như nhau, các khác biệt tự nhiên giữa họ đều được tôn trọng. Sự phát triển toàn diện của mỗi người (nam cũng như nữ) được xem là điều kiện phát triển, tiến bộ của xã hội. Sự bình đẳng không chỉ được ghi nhận trong luật pháp mà còn được đảm bảo trong thực tế cuộc sống thông qua các đối xử đặc biệt dành cho phụ nữ.

Ở Việt Nam, vấn đề bình đẳng nam nữ được Đảng, Nhà nước Việt Nam đặt ra từ sớm. Ngay từ khi ra đời (2/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cao tư tưởng “nam nữ bình quyền” và coi việc thực hiện tư tưởng đó là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam. “Nam nữ bình quyền” không phải là cách sử dụng từ ngữ ngẫu nhiên của Đảng nhằm đưa nữ giới lên ngang hàng với nam giới, mà là sự lựa chọn có chủ ý, vừa khoa học, vừa có tính cách mạng trong nhận thức và trong hành động của Đảng, thể hiện nhận thức tiến bộ vượt bậc, khác về chất so với quan niệm phong kiến Nho giáo. Đây có thể coi là Bản tuyên ngôn đầu tiên về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam, trong đó nam, nữ được công nhận ngang hàng nhau về chính trị.

Thấm nhuần quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất chú trọng tới công tác phụ nữ. Đảng đã đưa ra hàng loạt các Nghị quyết, Chỉ thị liên quan đến phụ nữ:“Nghị quyết về phụ nữ vận động” ngày 28/3/1935 của Đảng Cộng sản Đông Dương; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 6/12/1957 của Ban Bí thư bàn về “Một số vấn đề về công tác vận động phụ nữ”; Chỉ thị của Ban Bí thư số 137-CT/TƯ ngày 10/4/1959 “Về việc tăng cường lãnh đạo công tác vận động phụ nữ”; Chỉ thị số 43-CT/TW, ngày 25/4/1962 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em”; Nghị quyết của Ban Bí thư số 152 - NQ/TW ngày 10/1/1967 “Về một số vấn đề về tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận”. Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 7/6/1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”; Các Nghị quyết, Chỉ thị này đã đề cao vai trò, vị trí của giới nữ đồng thời cũng đưa ra các phương hướng, giải pháp tăng cường hơn nữa vai trò của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Một bước tiến trong quá trình thực hiện bình đẳng nam nữ ở Việt Nam đó chính là việc Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa thứ nhất, kỳ họp thứ 11 thông qua Luật hôn nhân và gia đình ngày 29/12/1959; Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (gọi tắt là Công ước CEDAW) vào ngày 29/7/1980, phê chuẩn vào ngày 27/11/1981 khẳng định những mong muốn và nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện những mục tiêu chung của toàn nhân loại, nhằm bảo vệ quyền con người và quyền của phụ nữ.

Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, vận hội, thời cơ, thử thách cho phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bình đẳng, dân chủ đan xen và tác động lẫn nhau, trong đó có công tác bình đẳng giới. Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Đại hội Đảng, các Nghị quyết và Chỉ thị của Trung Ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới.

Tại Đại hội X, XI, và XII, Đảng cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề bình đẳng giới, chăm lo cho phụ nữ, tạo điều kiện để chị em ngày càng khằng định vị trí trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng tiếp tục khẳng định phải “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp và chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện và cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội” [3; tr.163]. Điều đáng ghi nhận là Đảng luôn nhận thức và đánh giá đúng đắn vai trò “kép” của phụ nữ - vừa là người “giữ lửa” trong gia đình, vừa có đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước nên phụ nữ nên và đáng được nhận những ưu tiên của xã hội. Điều này thể hiện sự nhận thức đúng đắn của Đảng về bình đẳng giới - nghĩa là nam giới và nữ giới được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau ngoài xã hội. Đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam giới và nữ giới được công nhận. Để thực hiện được chủ trương đó, “Đảng và chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” [5; tr.617].

Dựa trên các cơ sở pháp lý cao nhất và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề bình đẳng giới, để thể chế hóa thêm một bước các quyền bình đẳng giới, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật bình đẳng giới ngày 29/11/ 2006, và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007. Luật gồm 6 chương, 44 điều, quy định đầy đủ các vấn đề và điều khoản nhằm thực hiện bình đẳng giới ở nước ta. Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta có luật quy định về vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ. Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, hiến pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới; thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giơí. Luật khẳng định: “Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [2; tr.14]. Luật Bình đẳng giới là đạo luật đầu tiên ở Việt Nam điều chỉnh tập trung nhất các chế định về bình đẳng giới, tạo cơ sở pháp lý thực hiện, thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.

Tiếp theo đó, Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị số 10/2007/TTg ngày 3/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ Về việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới; các văn bản hướng dẫn thi hành luật như: Nghị định số 70/2008/NĐ-CP của Chính phủ Về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định Về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, Nghị định số 55/2009/NĐ-CP của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới.

Tiếp đó, ngày 21/11/2007, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình cũng được Quốc hội thông qua. Luật gồm 6 chương, 46 điều, xác định rõ các hành vi bạo lực gia đình cũng như các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. Các điều khoản của luật hướng tới mục tiêu tạo sự bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình, tiến tới xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, ấm no, hạnh phúc, với sự tiến bộ của phụ nữ.

Sự ra đời của Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn, thi hành đã góp phần thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ; khắc phục tình trạng phân biệt đối xử về giới và những khoảng cách giới trong thực tế. Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng,chống bạo lực gia đình ra đời là thành tựu quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, là công cụ pháp lý hữu hiệu thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phấn đấu thực hiện Bình đẳng giới ở Việt Nam. Đây cũng là sự tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế.

Trên cơ sở thành tựu và hạn chế trong thực hiện bình đẳng giới trong chặng đường 10 năm từ năm 2011 đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: “Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2010” ban hành kèm theo Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là sự tiếp nối và khẳng định những nỗ lực không ngừng nghỉ của Đảng, Nhà nước và nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, và thực hiện mục tiêu chung mà đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra: xây dựng nước Việt Nam “Dân chủ, công bằng, văn minh”. Chiến lược này cũng thể hiện rât rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giớ. Điều 1 của Chiến lược này quy định: “chiến lược quốc gia về bình đẳng giới là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác bình đẳng giới là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội”. Chiến lược cũng đề ra được những giải pháp chung và các giải pháp cụ thể thực hiện từng nhóm mục tiêu cụ thể. Việc cụ thể hóa các mục tiêu phấn đấu theo từng giai đoạn và đề ra các giải pháp cụ thể thực hiện từng nhóm mục tiêu khẳng định Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới tình hình thực tiễn trong việc đề ra những chủ trương, chính sách bảo đảm bình đẳng giới.

2.2. Một số nhận xét và kinh nghiệm

* Thành tựu và hạn chế

Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực để mang lại bình đẳng giới thực sự cho nhân dân Việt Nam, để người dân Việt Nam thật sự được sống trong một xã hội văn minh, phát triển bền vững, nhân văn. Mặc dù còn một số những hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luậtc uat Nhà nước về bình đẳng giới như: bất bình đẳng giới còn thể hiện trên một số lĩnh vực xã hội quan trọng, phụ nữ vẫn chịu nhiều gánh nặng công việc, thu nhập, phân biệt đối xử; sự tham gia của phụ nữ trong cơ cấu tổ chức, quản lý xã hội còn hạn chế, đặc biệt ở cấp cơ sở; ở một số nơi vấn đề chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ cùng một vị trí công việc vẫn diễn ra, cơ hội để phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao vẫn thấp hơn so với nam giới, lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn thương hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực; tình trạng bạo hành phụ nữ vẫn diễn ra ở một số nơi, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi xa xôi. Tuy nhiên, có thể nói Việt Nam là một trong số các nước có nhiều thành tựu về thực hiện bình đẳng giới góp phần quan trọng phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập:

Trong lĩnh vực chính trị, Việt Nam là một trong các quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng hơn 20 năm qua, đã hoàn thành trước thời hạn mục tiêu bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ (đây là một trong các Mục tiêu Thiên niên kỷ mà chúng ta phấn đấu đạt tới); Việt Nam được Liên Hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, là một trong những nước có thành tựu về bình đẳng giới cao. Theo xếp hạng năm 2012 của Liên hợp quốc về chỉ số bất bình đẳng giới, Việt Nam xếp thứ 47/187 quốc gia, so với vị trí 58/136 quốc gia năm 2010 (thứ hạng càng gần 0 càng thể hiện sự bình đẳng cao); Tỷ lệ đại biểu nữ chiếm trên 25% (từ khóa IX đến khóa XII) và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV nhiệm kỳ 2016-2021 với tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV là 26,72%, tăng 2,62% so với nhiệm kỳ trước đã đưa Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới (đứng thứ 43/143 nước trên thế giới và thứ 2 ở châu Á về tỷ lệ phụ nữ trong Quốc hội (cao hơn Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản…) và cũng là lần đầu tiên Việt Nam có nữ Chủ tịch Quốc hội ; Mặc dù chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nhưng tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021 cấp tỉnh đạt 26,54% (tăng 1,37%); cấp huyện đạt 27,85% (tăng 3,23%) và cấp xã đạt 26,59% (tăng 4,88%); “Tính đến hết 6/2017, ở Việt Nam có 12/30 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ cán bộ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt, đạt tỷ lệ 40%, gồm: 10/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 02/08 cơ quan thuộc Chính phủ” [1; tr.9].

Trong lĩnh vực kinh tế và lao động, chỉ tính riêng năm 2016, giải quyết việc làm cho khoảng 1,641 triệu lao động, trong đó lao động nữ chiếm 48%. Chỉ tiêu này đã vượt 8% so với chỉ tiêu đặt ra trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020; “Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tính đến 1/7/2017 lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính là 54,5 triệu người, trong đó lao động nam 28,3 triệu người chiếm 52%, lao động nữ 26,2 triệu người chiếm 48%” [1; tr.10]. “Trong năm 2016, có 10 địa phương đạt tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp từ 30% trở lên. Riêng đối với Bình Dương, tỷ lệ nữ tham gia ban lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước đạt 50%” [1; tr.11]. Trong giai đoạn 2010¬-2015, số lượng lao động nữ chuyển dịch ra khỏi khu vực nông nghiệp cao hơn lao động nam. “Nếu như năm 2010, tỷ trọng lao động nữ và nam làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp tương ứng là 51,2% và 46,4%; thì đến năm 2015, các tỷ lệ này đã giảm xuống tương ứng còn 45,5% và 42,7%” [6; tr.94]; Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nữ, đặc biệt ở khu vực nông thôn được chú trọng, ước có khoảng trên 46% lao động nữ được học nghề theo chính sách của Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn; trên 40% lao động nữ được giải quyết việc làm. Ngoài ra, quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy định phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở và tài sản. Cơ hội tiếp cận tín dụng của phụ nữ được cải thiện.

Trong lĩnh vực y tế, văn hóa - giáo dục và khoa học công nghệ, Việt Nam cũng là nước dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về các chỉ số bình đẳng giới thông qua việc cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục tới trẻ em gái, trẻ em trai, phụ nữ, nam giới, tỷ lệ mù chữ của nữ giới so với nam giới ngày càng giảm… Đây là những con số rất có ý nghĩa, bởi việc thực hiện bình đẳng giới sẽ giúp mang lại các nguồn lợi lớn cho sự phát triền bền vững của mỗi quốc gia.

Công tác dự phòng lây truyền từ mẹ sang con hiện đang được triển khai trên địa bàn toàn quốc với những định hướng mới đối với các can thiệp về phòng lây truyền từ mẹ sang con. Kết quả đạt được như sau: “tỷ lệ phụ nữ mang thai được điều trị dự phòng giúp giảm lây nhiễm HIV từ mẹ sang con đạt 55,7%, tỷ lệ trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV được làm xét nghiệm HIV trong vòng 02 tháng sau sinh đạt 48,4%, ước tính tỷ lệ trẻ nhiễm HIV sinh ra từ mẹ nhiễm HIV trong vòng 12 tháng qua là 12,4%” [1; tr.13-14]. Kết quả trên cho thấy, ngành y tế Việt Nam đã không ngừng nỗ lực thực hiện hiệu quả mục tiêu chặn đứng và đẩy lùi tình trạng lan rộng của bệnh dịch HIV/AIDS (một trong 4 Mục tiêu Thiên niên kỷ về y tế).

Văn hóa là nền tảng để con người tham gia và thực hiện quyền công dân của mình. Từ Hiến pháp đầu tiên (1946) đến hiến pháp 1992 của Nhà nước Việt Nam đều khẳng định Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Với phương châm, giáo dục là quốc sách hàng đầu, hiện nay hệ thống giáo dục quốc dân đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và thống nhất; mở rộng về quy mô và bước đầu đa dạng hóa loại hình và phương thức đào tạo, tạo nhiều cơ hội cho người dân trong đó có phụ nữ tham gia học tập. Ngày càng nhiều tập thể và cá nhân các nhà khoa học nữ có công trình nghiên cứu được nhận giải thưởng VIFOTEC của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Kô-va-lép-xkai-a... Nhiều nhà khoa học nữ đã lập ra các hội nghề nghiệp, các câu lạc bộ, trung tâm nghiên cứu, tư vấn để tiếp tục phát huy trí tuệ, tài năng của mình đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước.

Trong lĩnh vực gia đình, Hệ quả của sự chuyển biến về kinh tế - xã hội là những thay đổi lớn lao trong đời sống gia đình Việt Nam. Công việc của phụ nữ được các thành viên trong gia đình chia sẻ; vị thế của phụ nữ được cải thiện đáng kể; quyền quyết định của phụ nữ gần tương đương với nam giới và trở thành một chủ thể quan trọng trong đời sống gia đình. Họ không chỉ tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động của gia đình mà còn thay mặt gia đình tham gia hoạt động cộng đồng hay giao tiếp với các thiết chế xã hội khác, hoàn toàn với tư cách chủ gia đình, điều mà trước đây chưa hề có. Như vậy, rõ ràng là vai trò của phụ nữ ngày càng không thể thiếu trong quá trình đổi mới đất nước.

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, công tác bình đẳng giới trong những năm qua còn một số hạn chế như: dù đã rất cố gắng nhưng một số chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới vẫn chưa được áp dụng triệt để hiệu quả trong thực tiễn cuộc sống; Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền một số địa phương, Bộ, ngành (nhất là người đứng đầu) còn chưa thật sự sát sao, thực chất do đó công tác bình đẳng giới hoạt động còn mang tính hình thức, chưa đạt được hiệu quả mong muốn; công tác tuyên truyền vận động của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới vẫn chưa thực sự hiệu quả; Việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực cụ thể vẫn còn nhiều hạn chế; Định kiến giới còn tồn tại gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới tại địa phương, cơ sở; bên cạnh đó một bộ phận phụ nữ còn tự ti, an phận; Đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới còn mỏng (nhất là tại các địa phương) nên chưa thực sự phát huy được vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc tham gia đánh giá về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các văn bản quy phạm pháp luật và các chương trình, dự án khác.

* Những kinh nghiệm chủ yếu

Chăm lo cho con người, bảo vệ và phát triển các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, trong đó có phụ nữ là mục tiêu cao nhất của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ mà Việt Nam cùng các nước là thành viên của Công ước CEDAW đang nỗ lực thực hiện.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu đáng khích lệ trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có vấn đề bảo đảm bình đẳng giới. Song, bên cạnh những thành tựu đạt được còn không ít những hạn chế, khó khăn, trở ngại. Vì thế, tổng kết những kinh nghiệm trong việc bảo đảm bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời gian qua là một việc làm cần thiết. Đây là cơ sở để Đảng thực hiện hoặc điều chỉnh, đề ra những chủ trương, chính sách đúng đắn phù hợp tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển, khẳng định được vai trò của mình trong đời sống xã hội. Tìm hiểu về sự lãnh đạo của Đảng thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam những năm qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Thứ nhất, nhận thức thống nhất và toàn diện về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong toàn Đảng, coi vấn đề giải phóng phụ nữ, nâng cao quyền cho phụ nữ là một trong những mục tiêu quan trọng trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thứ hai, phát huy vai trò, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong tỉnh đối với công tác bình đẳng giới

Thứ ba, phải hoàn thành hệ thống pháp luật về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và vận động nhân dân thực hiện tốt chính sách, pháp luật của nhà nước về bình đẳng giới.

Thứ năm, Đảng và Nhà nước phải đề ra được những biện pháp cụ thể, hiệu quả thực hiện bình đẳng giới, đưa ra vấn đề bình đẳng giới vào thực tiễn cuộc sống.

Thứ sáu, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Thứ bảy, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tình hình triển khai pháp luật về bình đẳng giới.

3. KẾT LUẬN

Có thể nói, bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa đối với phụ nữ mà còn đem lại ý nghĩa lớn lao đối với phát triển của xã hội. Đối với phụ nữ, bình đẳng giới làm thay đổi vị thế của họ, tạo ra cơ hội để họ thoát khỏi những cản trở, đem hết khả năng của mình cống hiến cho sự phát triển của gia đình và xã hội. Đối với xã hội, bình đẳng giới góp phần thực hiện sự phát triển tiến bộ của xã hội, bởi con người (cả nam và nữ) thực sự được xem là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Về điều này, bà Tôn Nữ Thị Ninh, Phó Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Việt Nam, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Liên hiệp châu Âu (EU) đã đưa ra một quan điểm đúng đắn về bình đẳng giới rằng, bình đẳng giới không đơn thuần là quyền lợi của chị em, mà chính là quyền lợi chung của một đất nước muốn phát triển bền vững. Bởi, nếu một đất nước chỉ sử dụng một nửa dân số, không phát huy được đầy đủ và tối đa năng lực của mọi người, của mọi công dân bất kể nam hay nữ thì thật là điều đáng tiếc. Quan điểm của bà cũng như của Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng chính là việc thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nói phụ nữ là phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [4; tr.300].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chính phủ (2017), Dự thảo báo cáo việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017.
2. Chương trình hợp tác chung giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc về Bình đẳng giới (2011), Hệ thống các văn bản quy định hiện hành về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình, Nxb Thời đại, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Un Women (Cơ quan của Liên Hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ tại Việt Nam) và Vụ bình đẳng giới (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) (2016), Thực tiễn và số liệu về phụ nữ và nam giới tại Việt Nam 2010 - 2015.
 

Tác giả bài viết: Trần Thị Chiên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây