SỰ CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC TỪ CHỈ QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA “LỬA” VÀ CỦA “NƯỚC” TRONG TIẾNG VIỆT (1)

Chủ nhật - 21/05/2017 15:20
                                                                                          TS. Nguyễn Văn Thạo
 
 
Tóm tắt:
Bài viết nghiên cứu về sự chuyển trường tương đồng và khác biệt giữa các từ chỉ quá trình vận động của “lửa” và của “nước” trong tiếng Việt, từ đó góp thêm phần khẳng định tính đa trị trong ngôn ngữ. Hơn nữa, sự chuyển trường còn làm cho tiếng Việt nói chung hay các từ chỉ quá trình vận động của “nước” và của “lửa” nói riêng càng thêm hàm súc, linh hoạt. Và củng cố cho nhận định rằng, việc lĩnh hội ngôn ngữ là cả một quá trình tư duy phức hợp mang sắc thái riêng của văn hóa tộc người, tư duy và quy luật của ngôn ngữ.

Abstract: The article researches the similar and the different semantic field changes of words indicating “water” and “fire” movement in Vietnamese. For more assertion of languages multivalue. More over, these semantic field changes proves Vietnamese in general and words indicating “water” and “fire” movement in particular more flexible and concise. These consolidate for the confirmation of which language perceived is the process of complex thinking of ethnic culture and also the language rules.
Từ khóa: trường nghĩa, chuyển trường, lửa, nước.
Key words: semantic field, semantic field change, fire, water.
 
1. Dẫn nhập
“Nước” và “lửa” là hai yếu tố trong ngũ hành và thường được quan niệm là đối lập, bài trừ nhau: có “nước” thì không có “lửa” và ngược lại. Tuy nhiên, hai từ “nước” và “lửa” (cùng những từ thuộc trường nghĩa của chúng nói chung và các từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “lửa” và “nước” nói riêng) trong cách dùng của người Việt có thể có những nghĩa chuyển trường tương đồng, bên cạnh những trường hợp khác biệt. Hơn nữa, cả “nước” và “lửa” đều là những yếu tố của thiên nhiên, nhưng những từ thuộc hai trường nghĩa đó trong tiếng Việt thường xuyên được chuyển sang các trường nghĩa thuộc con người và xã hội. Chính từ sự chuyển trường đa dạng này, bài viết nghiên cứu các từ chỉ quá trình vận động của “lửa” và của “nước” trong thế tương liên với nhau.

2. Sự chuyển trường tương đồng giữa các từ chỉ quá trình vận động của “lửa” và của “nước”
2.1. Sự chuyển trường tương đồng sang trường nghĩa con người
Con người được nhìn nhận có những dáng vẻ bề ngoài, những diễn biến tâm lý bên trong giống như sự vận động của “nước” và “lửa”. Chính vì thế mà từ thuộc tiểu trường các từ chỉ sự tự vận động của “nước” và “lửa” được chuyển trường để diễn tả các vận động và trạng thái bên ngoài cũng như tâm lý bên trong của con người. Hơn nữa, cả cuộc đời của con người cũng có những vận động giống với quá trình vận động của “nước” và “lửa”.

2.1.1. Diễn tả các vận động, trạng thái của cuộc đời, sự sống hay số mệnh của con người
- Cuộc đời, sự sống hay số mệnh của con người có nhiều giai đoạn như quá trình vận động của ngọn “lửa”: có lúc bắt đầu “nhen nhóm”, có lúc “bừng sáng”, lại có lúc “tàn lụi” (cuộc sống đã bén rễ, cuộc đời bừng sáng, cháy lên khát vọng sống, sự sống tắt dần/le lói/tàn lụi, cuộc đời tàn lụi, cuộc đời đã tàn,…). Cuộc đời con người được diễn tả như thể ngọn “lửa” hiên ngang cháy bất chấp những tác động tiêu cực từ bên ngoài “Cho cuộc sống con người/Thành ngọn lửa bùng cao không gió bão” [8] và tuổi thơ được ví như ngọn “lửa” bừng cháy tươi sáng và đẹp đẽ của con người “Nhưng ngọn lửa đã bừng lên tiếng hát/Vẫn diệu kỳ trong suốt tuổi thơ tôi”. Bên cạnh đó, trạng thái của cuộc đời con người cũng được nhìn nhận như một đốm “lửa” có thể âm ỉ cháy “Chị nghe giọng nói mẹ u uất như không phải nói với vợ của con trai mình mà nói với chính mình, với chính cuộc đời âm ỉ đau thương của mình” [11], nhưng cuộc đời cũng có thể bùng lên tỏa sáng “Cả cuộc đời con cứ như một đốm lửa muốn bùng cháy lên với bao khát vọng” (Lm Antôn Nguyễn Văn Tiếng (2013), Phải chi lửa ấy đã bùng lên trên Website của Giáo phận Cần Thơ). Thậm chí ngọn “lửa” có thể làm cuộc đời, số mệnh của con người thay đổi theo hướng tích cực như sự tái tạo lại cuộc sống lần thứ hai “Bóng tối tưởng như nuốt chửng được Chúa, nhưng ngọn lửa Phục sinh đã bừng lên giữa đêm đen” (Lm Antôn Nguyễn Văn Tiếng (2013), Phải chi lửa ấy đã bùng lên trên Website của Giáo phận Cần Thơ). Ngược lại, cuộc sống, sự sống hay số mệnh lại có lúc le lói và lụi tắt như ngọn “lửa”, con người khi đứng trước sự sống và cái chết, người ta thường hy vọng vào một điều kỳ diệu có thể xảy ra, đó là làm sao để kéo dài thêm được sự sống. Nhưng đến khi không thể cưỡng nổi thì đành phải cam chịu. Để thể hiện cho sự bất lực đó người ta đã dùng từ chỉ vận động của “lửa” để diễn tả một cách sống động “Bấy giờ hy vọng khỏi đã lụi hẳn nhưng Sinh còn cử động được đôi chút, còn có thể ngồi xe đẩy và đầu óc hoàn toàn tỉnh táo” [6]. Không phải là đối mặt với sự sống hay cái chết mà kể cả khi đối mặt với một tương lai u ám, mờ mịt người ta cũng dùng từ chỉ các vận động của “lửa” để diễn tả “Em nhìn thấy tương lai, - Phương nói – Đấy là sự đổ nát. Sự thiêu hủy” [6]. Hoặc đánh giá về số mệnh, tương lai hay cuộc đời của mình một cách tiêu cực đầy cảm thán “Can nấc lên – Đời tôi tàn rồi, nhưng dù thế nào tôi cũng phải gặp lại mẹ, phải nhìn thấy làng tôi…” [6], và “Tôi cũng không thể không hiểu rằng ngôi sao chiếu mệnh của đời tôi đã vĩnh viễn lụi tắt” [6]. Cuộc đời hay sự sống của một con người dù rất cao quý, nhưng so với cả nhân gian này cũng chỉ không hơn một đốm lửa tàn “Một người đâu phải nhân gian?/Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!” [9].

- Cuộc đời con người cũng được nhìn nhận như một dòng nước chảy có nhiều giai đoạn khác nhau (sông có khúc, người có lúc, dòng đời, cuộc đời lênh đênh, đời trôi chảy…). Cuộc đời được ví như dòng trôi của “nước”, tự cuốn đi và kết thúc một cách tự nhiên, êm ả theo thời gian “Hai đứa bơi sóng đôi mỗi lúc một xa bờ…khúc sông đời thanh lặng, êm ả cuối cùng nhanh chóng trôi xa” [6]. Cũng chỉ cuộc đời như dòng trôi nhưng cuộc đời lại không êm ả mà có lúc gập ghềnh, chông chênh “Và, bây giờ trên dòng trôi không ngừng uốn lượn và gấp khúc của cuộc đời, Kiên thấy lan tới chỗ mỏm bờ sông anh đang đứng làn nước mang rõ rệt hình bóng của cái thời hiện tại, cái ngày hôm nay” [6]. Cuộc đời con người từ khi sinh ra đến lúc kết thúc sự sống được ví như dòng trôi của nước nên con người có thể trôi theo và cũng có thể vượt ra khỏi cái dòng trôi đó “Có lẽ nhờ tiếng gọi ấy mà Kiên không chết, đã dứt ra khỏi dòng trôi của sự chết” [6].

2.1.2. Diễn tả dáng vẻ và sự thay đổi bên ngoài của con người
- Hình dáng, trạng thái bên ngoài của con người cũng được diễn tả giống như dáng vẻ, trạng thái, đặc điểm của “lửa”. Các từ chỉ quá trình vận động của “lửa” có thể được sử dụng theo nghĩa chuyển để thể hiện hình thức xinh đẹp, rực rỡ của con người, nhất là người phụ nữ. Nói đến người phụ nữ có sắc đẹp quyến rũ, làm say đắm bao con người, người ta thường dùng cách nói “thân hình bốc lửa”, “tấm thân thiêu đốt”, “sắc đẹp bùng cháy”… Ví dụ: “Bước sang tuổi mười bảy đã vút lên trở thành một sắc đẹp bừng cháy sân trường Bưởi” [6]. Cái đẹp ngay cả khi tuyệt vọng vẫn sáng lên như ánh “lửa” rực cháy “Choáng ngợp tâm hồn Phương là vẻ bừng sáng tuyệt vọng của cái đẹp bùng cháy lên. Và trong ánh lửa là sắc diện của con người tử vì đạo” [6]. Ngược lại, Một thân hình, dáng vẻ bề ngoài của con người khi có sự thay đổi mang tính tiêu cực cũng được diễn tả như vận động của “lửa”, sự xuống sắc của một thiếu nữ kiều diễm được diễn tả như ngọn “lửa” tàn dần “Nhất là Phương. Một sắc đẹp đến vậy, trẻ trung đến như thế nhưng lem luốc, tàn lụi rã rời và đầy bất cẩn” [6]. Hoặc chỉ sự thay đổi ở khuôn mặt “Những mặt như hoa, ôi! Cháy sém/Ông đi tìm cháu khó nhìn nom” [10]. Thậm chí là ánh mắt khi nhìn cũng có lúc xuất thần như những tia sáng của lửa “Đôi mắt nó lóe lên những tia ấm áp và thân quen” [11], và cũng có khi là hoang dại hay là sự hung dữ như những con thú hoang “Mồ hôi chảy từng dòng, từng dòng ông chỉ bắt gặp ánh mắt Sáu Lê lóe sáng giống hệt ánh mắt mèo hoang trong mùa động đực” [11], hoặc là sự khao khát, mong mỏi mãnh liệt “Người thì với vẻ si ngốc, người thì cặp mắt rực lóe lên như sắp văng ra những tàn lửa thèm khát” [6]. Từ chỉ vận động của “lửa” cũng được chuyển trường để diễn tả dáng vẻ hùng dũng, uy nghi và đầy hung dữ của ánh mắt “Mắt trào lửa giận cháy con ngươi!/Miệng hát quân ca lòe ánh sáng” [10].

    - Hình dáng, trạng thái bên ngoài của con người cũng được diễn tả giống như dáng vẻ, trạng thái, đặc điểm của nước (tóc chảy dài, gương mặt chảy thượt, nhìn xoáy,…). Dáng vẻ, trạng thái của bộ tóc thiếu nữ cũng như gương mặt được diễn tả như trạng thái vận động của dòng nước “Cùng với thời gian, dù tóc tôi đã chảy dài ngang lưng, tôi vẫn cứ là một con bé nghịch ngợm” [11], và “Giờ chỉ có gương mặt con gái tôi – già như bà cụ non, chảy thượt, nước mắt rơm rớm vòng quanh” [11].

2.1.3. Diễn tả vận động của âm thanh, giọng nói của con người
- Âm thanh, giọng nói cũng có những trạng thái vận động như ngọn lửa, có lúc bùng lên và có lúc tắt hẳn hoặc lịm đi như ngọn “lửa” (gào cháy cả họng, giọng nói tắt/lịm dần…). Các từ chỉ vận động của “lửa” có thể được chuyển trường để diễn tả sự bắt đầu của giọng nói, tiếng hát “Từ cái quán karaoke ven hồ bỗng bùng lên những tiếng gào da diết” [11]. Nhưng cũng có thể là diễn tả sự chấm dứt của âm thanh hay giọng nói “Có lẽ vẫn tiếng gọi lúc ban chiều nhưng tiếng gọi đó không tắt mà cứ bay lang thang mãi trong thinh không đã tràn đầy những hình bóng của đêm khuya” [6]. Ngay cả những âm hưởng ở trong tâm thức của chúng ta cũng được diễn đạt bằng các vận động của “lửa” như “Khi vốc xương mủn và cây đàn vừa được đưa lên từ đáy huyệt thì tất cả những ai có mặt đều nghe thấy vang lên trong lòng rừng những âm điệu bi tráng của bài ca ấy. Sau đó thì vĩnh viễn tắt bặt. Bài ca chắc là đã mãi mãi lìa bỏ khu rừng” [6]. Không chỉ là những âm thanh, giọng nói thuần túy mà ngay cả tiếng cầu kinh cũng bị tắt như ngọn lửa “Không gian im lặng, tiếng cầu kinh đã tắt từ lâu rồi” [11], hoặc tiếng cười cũng vậy “Nụ cười tắt ngang, nét khắc khổ lại nguyên vẹn trên gương mặt Nam An” [11]. Thậm chí là tiếng đàn cũng có lúc cháy lên và có lúc tắt bặt như ngọn lửa “Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm/Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân” [10].
- Giọng nói, tiếng hát hay hơi thở của con người cũng được nhìn nhận như có đặc điểm, trạng thái vận động giống như của “nước” (tiếng hát dâng lên, trút hơi thở dài,…). “Khi bóng tối vùi kín rừng cây trong hẻm núi thì từ đáy rừng phủ lá mục tiếng hát thì thào dâng lên, có cả tiếng đàn ghi-ta hòa theo nữa hoàn toàn hư, hoàn toàn thực” [6], “Vâng, - Phương đáp, trút một hơi thở dài, nắm lấy bàn tay Kiên, uốn mình đứng lên” [6], và “Trai phố có, sinh viên trong trường có, khác trường có. Hoa cùng những lời mỹ miều có cánh như suối tuôn chảy” [11].

 2.1.4. Diễn tả các trạng thái tâm lý, tình cảm bên trong của con người.
 Không chỉ diễn tả các dáng vẻ, trạng thái bên ngoài mà từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “lửa” và quá trình vận động của “nước” còn được chuyển trường để diễn tả các trạng thái tâm lý, tình cảm bên trong của con người.

- Tâm lý, tình cảm của con người cũng trải qua những vận động như “lửa”, có nhiều cung bậc và khía cạnh khác nhau, như diễn tả phẩm chất cao quý của con người, là sự hiếu thảo, sự mong ước, mong mỏi cháy bỏng ở trong tâm như thể có ngọn lửa siêu nhiên soi sáng và tiếp thêm sức sống cho các bậc sinh thành “Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời, cầu cho cha mẹ sống đời với con” [2]. Thời gian hay năng lượng của sự sống được ví như một nguồn nhiên liệu, nguồn nhiên liệu làm cho ngọn đèn cháy lên mãi mãi. Một khi nhiên liệu cạn kiệt thì sự sống cũng bị tắt đi như ngọn đèn hết dầu. Chính vì thế, sự hiếu thảo của con cái thể hiện qua mong ước được đánh đổi thời gian sống của mình để lấy một chút nhiên liệu màu nhiệm của sự sống cho bậc sinh thành “Nếu có đấng quyền năng cho phép, tôi xin trao đổi bớt thời gian cuộc đời mình để lấy thêm chút dầu thắp sáng lên ngọn đèn sắp tắt…Để tôi được thấy mình vẫn còn mẹ” (Như ngọn đèn sắp hết dầu… YuMe.vn, 8.2.2012). Phẩm chất cao quý của con người còn được thể hiện thông qua tính kỷ luật, dù có thể không còn một chút hơi tàn hay giọt máu của sự sống thì tính kỷ luật vẫn được giữ vững “Đến cạn máu tàn hơi/Không xa rời kỷ luật” [9]. Ngoài ra, phẩm chất của những vĩ nhân như Lê – nin cũng được ví như ngọn lửa rực cháy không ngừng “Lê – nin, ấy là lò thép chảy/Thành những óc tim, lửa cháy bừng bừng” [9]. Đặc biệt nhất, trường “lửa” là một trường được người Việt rất ưa dùng với nghĩa chuyển nhằm diễn tả các trạng thái, các cung bậc khác nhau trong tình yêu đôi lứa. Vì thế tiểu trường các từ chỉ sự vận động của “lửa” cũng có hướng chuyển trường như cả trường nghĩa “lửa”. (bén duyên, tình yêu rực cháy, cuộc tình nồng cháy, tình yêu bốc lửa, cuộc tình thiêu đốt, tình yêu đã tắt, cuộc tình đã tàn/tắt/lụi, tình cảm lịm tắt, tắt lửa lòng.v.v…). Để diễn tả sự bắt đầu, sự gắn kết của đôi trai gái yêu nhau, người ta dùng từ thuộc trường “lửa” chuyển trường để diễn đạt “Chúng nó hình như đã bén duyên nhau rồi thì phải” [kn]. Tình yêu say đắm đạt đến mức cao trào cũng được nhìn nhận như ngọn lửa bốc lên “tình yêu bốc lửa” [kn]. Hoặc diễn tả một cuộc tình đến một cách chóng vánh mà hai người đã không tuân theo một trật tự thời gian nhất định “đốt cháy giai đoạn” [kn]. Sự xa cách trong tình yêu, sự mong chờ làm cho những kẻ yêu nhau thấy nhớ thương, khắc khoải đến xé lòng “Thương em vất vả, anh quên hết/Nỗi khổ mong chờ cháy dạ anh” [10]. Ở mức độ cao trào nữa là thể hiện sự gắn kết xác thịt giữa hai con người “Tình dục vốn đã ngủ say và những nồng cháy của xác thịt tưởng đã bị dập tắt hẳn từ lâu lại như bắt lửa bừng rực lên với hình bóng nàng nhập vào anh hằng đêm giữa những giấc mơ” [6]. Ngược lại, sự chấm dứt trong tình yêu cũng như vậy. Cuộc tình mà khi hai người đã thấy nhàm chán, không còn vương vấn cũng được diễn tả như vận động của “lửa”, “Kể lại, viết lại làm sống lại những linh hồn đã mai một, những tình yêu đã phai tàn, bừng sáng lại những giấc mộng xưa” [6] hay như “Tưởng gần tàn – yêu? Yêu nhau? Làm chi nữa!/Tôi vẫn biết rằng tôi chẳng xứng người” [10]. Con người ta cho rằng có duyên nợ mới đến với nhau nhưng khi duyên nợ đã hết thì cuộc tình cũng chấm dứt. Sự chấm dứt đó được diễn tả, ví von như thể cái tổ ong bị tàn phá trong những ngày mưa bão làm tan nát “Có duyên như tượng tô vàng, hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa” [2].

- “Nước” cũng được chuyển trường để diễn tả các trạng thái tâm lý, tình cảm bên trong của con người. Trạng thái tâm lý, tình cảm bên trong có nhiều cung bậc và khía cạnh khác nhau như diễn tả trạng thái u mê, thất vọng trong tinh thần “Cái thời mà toàn bộ con người anh nhân tính và nhân dạng, còn chưa bị bạo lực tàn bạo của chiến tranh hủy hoại, cái thời anh cũng ngập lòng ham muốn, cũng biết say sưa, si mê, cũng trải những cơn bồng bột” [6]. Hay trạng thái thất vọng “Và đôi khi giữa đêm, lòng tràn tuyệt vọng anh nấc lên, nước mắt giàn giụa, phải thúc mặt vào gối cho đến kỳ ngạt thở…” [6]. Cũng diễn tả trạng thái tâm lý, tình cảm nhưng ở một khía cạnh khác là diễn tả các trạng thái tình cảm, tình yêu của đôi lứa ở các cung bậc khác nhau. Sự ghen tuông, giận dỗi trong tình yêu được diễn tả như dòng nước đang dâng trào “Nhìn họ sáng sáng chở nhau đi, Uyên cố chấn áp tình cảm ghen tuông cứ trào lên ngang cổ” [11], hay “Cái Tý bỗng cảm thấy một nỗi hờn ghen dâng đầy” [11]. Cũng là tình cảm, tình yêu nhưng là một niềm hạnh phúc lớn lao mà người chồng đã đem đến cho người vợ yêu thương của mình như một cơn thủy triều trào lên “Vợ ông ngỡ ngàng, sung sướng đón nhận cơn thủy triều yêu thương trào dậy nơi ông” [11]. Sự quan tâm, chăm sóc của đôi tình nhân với nhau giống như dòng nước tuôn trào không ngớt “Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn/Sóng mắt, lời môi, nhiều – thật nhiều!” [10]. Ở một mức độ cao trào hơn nữa là những niềm hoan lạc giữa hai người “Một bài thơ mênh mông như vũ trụ/Đầy khói hương xưa, tràn ân ái cũ” [10]. Ngược lại, sự đổ vỡ trong tình cảm, tình yêu lứa đôi cũng được diễn tả như một dòng trôi mãnh liệt của “nước” làm cho cuộc tình phải bị chia ly, xa cách không thể cứu vãn “Có biết bao nhiêu cánh cửa như thế mà lẽ ra nếu kịp khép lại thì những bước đi vu vơ của tuổi trẻ đã không thể đưa số phận mối tình trôi xa, cuốn nó tới vực thẳm này” [6].

 2.1.5. Diễn tả quá trình suy nghĩ của con người
- Sự suy tư, suy nghĩ của con người cũng được nhìn nhận như có sự tương đồng với các vận động của “lửa” (ý nghĩ đã tắt, trong hắn bùng lên một ý định, cháy lên một ý định, một ý định điên dại chợt lóe lên .v.v…). Sự suy nghĩ của con người có thể bùng cháy dữ dội như một ngọn “lửa” “Khi ý nghĩ bỏ trốn bùng dữ dội thì còi báo động ré lên” [11], ngược lại một ý nghĩ cũng có thể rực lóe lên rồi vụt tắt như trạng thái vốn có của “lửa” mà thực tế con người có thể cảm nhận được “Luôn luôn, khi đi trên đường phố, trong đầu anh thường bất chợt lóe lên một ý nghĩ” [6]. Sự suy nghĩ, suy tính cũng kết thúc như cách thông thường của ngọn “lửa” “Mọi dự định, suy tính nung nấu bấy lâu của hắn đến giờ này đã tắt ngấm rồi” [kn].

 - Quá trình suy nghĩ của con người cũng được diễn tả như dòng nước vận động “Phải rồi. Kiên nghĩ. Mình, chính mình, sau từng ấy năm trời đã trở nên hoàn toàn sa đọa, đã trở nên thác loạn, đã ngập chìm trong tủi nhục, oán hờn và lú lẫn” [6] hay “Những liên tưởng cứ tuôn trào không ngớt”. Trạng thái vận động của sự việc trong tâm lý hay các dòng ý nghĩ trong trí não được diễn tả như sự vận động của “nước” trong không - thời gian “Dằng dặc trôi qua hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết” [6] và “Ông ngoảnh lại với ký ức, miên man trôi theo dòng thời gian ngược” [11] hay “Cho đến lúc trong miệng cảm nhận cái vị ươn ướt ngòn ngọt thoáng cả nỗi đau đớn mơ hồ như thể vị ngọt từ giấc mơ của Phương thấm truyền sang…” [6].

Trên đây là các hướng chuyển trường của hai tiểu trường quá trình vận động của “lửa” và của “nước” sang trường nghĩa con người. Để có cái nhìn bao quát hơn, xin xem thêm bảng tổng hợp các hướng chuyển trường của hai tiểu trường quá trình vận động của “lửa” và của “nước”, dưới đây.

Bảng 1. Các hướng chuyển trường của các từ chỉ quá trình vận động của “lửa” và của “nước” sang trường nghĩa con người
Trường nghĩa Từ chỉ
vận động
Vận động cuộc đời, sự sống Dáng vẻ và sự thay đổi bên ngoài Vận động của âm thanh, giọng nói Trạng thái tâm lý tình cảm Quá trình suy nghĩ
lửa bén     1 3  
bốc   1   2  
bùng 1 2 2 2 3
cháy 1 5 2 12 1
lóe   3     2
lụi 1     1 1
tàn 2 3 1 4  
tắt 2   6 3 2
thiêu 1 1   2  
Tổng cộng 8 15 12 29 9
nước chảy 3 4 1    
cuốn 2     2 2
dâng     3 5  
mưa   1   3  
ngập       8 1
rỉ     5    
sôi 2 2 2 5  
tràn 3 2 4 10 2
trào   3   5 1
trôi 11     3 4
trút 1   2 5  
tuôn     1 3 1
Tổng cộng 22 12 18 49 11
 
Cũng là hiện tượng chuyển trường sang trường nghĩa con người nhưng các từ trong mỗi tiểu trường có hướng chuyển trường không đồng đều nhau giữa các lĩnh vực khác nhau về con người. Từ “bén” trong tiểu trường chỉ vận động của “lửa” chỉ chuyển trường để diễn tả vận động của âm thanh giọng nói và trạng thái tâm lí tình cảm của con người, ngược lại từ “cháy” được chuyển trường để biểu thị tất cả năm lĩnh vực của con người. Tiểu trường vận động của “nước” cũng tương tự như vậy, khi một số từ chỉ được chuyển trường sang một hoặc hai lĩnh vực như “rỉ”, “dâng”, “mưa” nhưng cũng có từ chuyển trường để biểu thị tất cả các lĩnh vực về con người như “tràn”. Nhìn chung, trong năm miền đích giống nhau của cả hai tiểu trường thì cả hai tiểu trường quá trình vận động của “lửa” và của “nước” có hướng chuyển trường nhiều và mạnh nhất là để chỉ trạng thái tâm lý tình cảm của con người. Cho nên, mới chỉ giới hạn ở hai tiểu trường quá trình vận động của “lửa” và của “nước”, thì cũng đã có thể nhận xét rằng: trong sự tri nhận của người Việt Nam các trạng thái hay diễn biến tâm lý tình cảm của con người chẳng khác nào các quá trình vận động của “lửa” hay của “nước” hoặc rộng hơn có thể nói, trong sự tri nhận của người Việt Nam TÂM LÝ TÌNH CẢM CỦA CON NGƯỜI LÀ LỬA, LÀ NƯỚC.

2.2. Sự chuyển trường tương đồng của hai tiểu trường sang trường chiến tranh
2.2.1. Từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “lửa”
Ngoài chuyển trường để diễn tả các trạng thái và quá trình thuộc nhiều phương diện khác nhau của con người (dáng vẻ bên ngoài, lời nói, tâm lý, sự suy nghĩ và cuộc đời), các từ chỉ vận động của “lửa” cũng chuyển sang trường nghĩa chiến tranh để nói hết được sự khốc liệt của nó. Bầu không khí ngột ngạt của chiến tranh được diễn tả như ngọn “lửa” bốc lên mãi “Trời đổ mưa. Phải, trong cái ngày hùng tráng ấy – Ngày toàn thắng - ở Sài Gòn sau buổi trưa khốc liệt bốc lửa, giời đổ tắm một cơn mưa rào. Chừng nửa giờ thì tạnh, mặt trời xua tan mây và hiện ra sau làn khói” [6]. Bom đạn là những thứ không thể vắng bóng trong chiến tranh. Nhưng để thể hiện được hết sự khốc liệt của nó, người ta đã dùng từ chỉ vận động của “lửa” chuyển trường để diễn đạt “Quả bom cuối cùng dập tắt mọi tiếng nổ” [11]. Sau những trận đánh, binh lính của các bên tham chiến kẻ mất người còn, nhưng những gì còn lại chỉ như thể những tàn lửa. Hay là một chút sức lực còn lại sau những sự khốc liệt và gian truân đó “Kiên giật mình. Bất ngờ, cực lẹ thu hết tàn lực, Quảng đưa cánh tay chưa gãy lên rút thoắt quả u-ét Kiên cài bên hông” [6]. Những hệ quả trông thấy trước mắt là sự đổ nát, sự hoang phế của những không gian xảy ra trận chiến được diễn tả như các vận động của ngọn lửa “Hồi trung đoàn 3 về đây làng đã hoang tàn, tuyệt không một bóng người còn sống” [6]. Không chỉ các hậu quả trước mắt của chiến tranh mà còn gắn chặt với ký ức của những người trong cuộc hay chứng kiến một thời binh lửa “Nhưng tất cả những gì bị chiến tranh nghiền nát thì dư âm lại bền lâu, bền lâu hơn tất cả các tàn tích của chiến tranh và chinh chiến” [6]. Cuối cùng là những khoảng trống trong tâm trí con người về một thời binh lửa “Ký ức một ngày mưa gian truân bên bờ Sa Thầy vào rừng hái măng đào củ…những bờ suối, bãi lau, buôn nhỏ hoang tàn…” [6]. Ngoài những ký ức đau thương, những khoảng trống trong tâm hồn mỗi con người đã trải qua thời chiến tranh khốc liệt ấy, thì ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa của tâm hồn lương thiện vẫn kiên cường cháy và soi sáng cho cuộc sống tươi đẹp sau một thời binh lửa đã qua “Lửa chiến tranh nay đã tắt rồi/Mà lòng ta vẫn cháy không nguôi” [9].

2.2.2. Từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “nước”
Trong chiến tranh, những bước tiến công, tiếng súng, bom, đạn, bầu không khí trong chiến tranh và hệ quả thảm khốc của nó được diễn tả như sự vận động của “nước”. Một cách khẩn trương, mạnh mẽ, dồn dập và khốc liệt. Đôi khi là âm thầm nhưng đầy mạnh mẽ, đã làm cho bức tranh về các cuộc chiến càng hiện diện gay cấn hơn (mưa bom, trút bom, căng thẳng dâng cao, máy bay tràn vào, bụng rách trào ruột, sóng trào chen lấn, sôi réo nhiệt tình yêu nước,…). Trước và trong khi cuộc chiến xảy ra, bầu không khí căng thẳng giữa các bên là không tránh khỏi “Khi căng thẳng dâng cao, Bình Nhưỡng từng đe dọa tấn công hạt nhân phủ đầu vào Mỹ và Hàn Quốc” (vnexpress-TG, 15.5.2013). Tinh thần yêu nước, bảo vệ tổ quốc cũng được diễn tả như trạng thái sôi sục của “nước”. “Ấy vậy mà chính lúc bấy giờ, trong mùa xuân đấy, đâu đâu cũng sôi sục bầu không khí hừng hực chủ nghĩa anh hùng và nhiệt tình ái quốc” [6]. Trong cuộc chiến, sự tiến công có thể bằng bộ binh, thủy binh hay không lực,… nhằm tạo ra sức mạnh trên mặt trận. Sức mạnh đó, được người Việt dùng các từ chỉ vận động của “nước” để diễn tả “Lại một đợt máy bay nữa tràn vào. Kiên run lên, anh gào to” [6] hay “Hồi bọn tớ tràn qua Xuân Lộc đuổi đánh bọn lính sư đoàn 18, ở các rãnh xích đầy những thịt với tóc” [6]. Bom đạn, súng đạn dùng trong chiến trận được diễn tả có các vận động như “nước”. “Bom thì vẫn đang trút xuống khu vực đó” [6]. Bầu không khí trong trận chiến hỗn loạn “Và dù biết rõ cả tàu thậm chí cả toa, liệu có nhìn thấy nổi một ngón tay của Phương không trong sóng trào chen lấn này” [6]. Hậu quả của chiến tranh thật vô cùng thảm khốc được diễn tả như có các vận động giống “nước” “Kiên quỳ cạnh anh, luống cuống không biết bằng thế nào. Bụng rách trào ruột. Nhưng điều đáng sợ là xương xẩu dường như gãy hết, mạng sườn lõm vào, tay lủng liểng, và hai đùi tím ngắt” [6]. Những nấm mồ là sự hiện diện của chết chóc, được diễn tả như thể sóng cồn, tạo cảm giác mất mát, bi thảm đến vô cùng “Chân trời chết chóc mở ra mênh mang, vô tận những nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô như tựa sóng cồn” [6]. Cuối cùng là những hồi ức về chiến tranh thật ghê rợn đối với con người “Nhưng chẳng cần đến lời nguyền ấy thì cũng như Kiên hầu hết anh em ở đội hài cốt đã ra khỏi chiến tranh với một tâm hồn tràn ngập bóng tối tang thương, oan khốc của bao nhiêu là cuộc đời còn hoặc đã mất sạch tên tuổi” [6].

Như thế, khi chuyển sang trường nghĩa chiến tranh, các từ thuộc hai tiểu trường vận động của “nước” và vận động của “lửa” đều giống nhau rất rõ ở một điểm: thể hiện sự khốc liệt, dữ dội và sức tàn phá khủng khiếp của chiến tranh. Từ đó một điều dễ hiểu là theo quan niệm dân gian từ lâu thì “nước” (thủy), “lửa” (hỏa) và giặc (tặc) đều được xếp chung trong bốn hiểm họa hàng đầu đối với con người và xã hội loài người (thủy – hỏa – đạo – tặc).

 2.3. Sự chuyển trường tương đồng của hai tiểu trường sang trường thời gian
2.3.1. Từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “lửa”
Từ chỉ vận động của “lửa” không chỉ được chuyển trường sang trường con người mà còn được dùng để biểu hiện thời gian (khách quan và chủ quan). Sự kết thúc của một ngày được ví như ngọn lửa tắt “Buổi sáng đã qua lâu. Trưa. Chiều. Ngày đã lụi tàn. Và trong căn phòng vắng lặng” [6] và “Hoàng hôn đã lụi tàn, trời đổ tối” [6]. Hay diễn tả sự chuyển giao của các mùa trong năm “Chưa tàn cuối hạ đã sang thu/Ngây ngất hôm nay một ánh mờ…” [10]. Hoặc diễn tả thời gian chủ quan của một sự kiện nào đó của con người “Giờ tiệc đã tàn, khách đã về, người giúp việc đang dồn tất cả thức ăn thừa mang cho những người ở quê ra thuê nhà đi làm như chị” [11].

2.3.2. Từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “nước”
Thời gian được diễn tả như có các đặc điểm hay trạng thái vận động của “nước” (một năm trôi qua, thời gian trôi, thời khắc trôi qua, thời gian ngưng đọng,…). Ví dụ: “Thấm thoát thời gian thoi đưa, từ ngày cái Tý biết người đàn ông nọ đã một năm trôi qua” [11], “Thời gian của những kẻ yêu nhau sao mà trôi nhanh” [5] và “Thời khắc trôi qua đến nghẹt thở” [11]. Không chỉ có trạng thái vận động mà thời gian cũng có khi ngưng đọng lại như sự ngưng đọng của “nước” “Có thể đọc thấy không biết bao nhiêu trang ám bụi mang nặng âm bóng của thời gian ngưng đọng, mờ mờ, tỏ tỏ, tranh tối tranh sáng, lẫn lộn các thời đại” [6].

2.4. Sự chuyển trường tương đồng của hai tiểu trường sang trường nghĩa hiện tượng khí tượng
2.4.1. Từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “lửa”
Các từ chỉ vận động của “lửa” cũng được chuyển trường để diễn tả sự bắt đầu của ánh sáng mặt trời chiếu xuống “Bụi mù lên, nắng bắt đầu cháy” [6]. Cũng là tả cảnh chiếu sáng của mặt trời nhưng không phải là lúc mọc mà là lúc lặn “Ở xế trời Tây ánh tà kỳ thực vẫn chưa tắt hẳn, đọng lại một dải đỏ thành vệt dài thẳng như kẻ chỉ. Cái cạch ấy dường như không sà thấp xuống mà cứ dâng cao mãi” [6] và “Ánh hoàng hôn huy hoàng màu hồng nhạt đã tắt rồi” [6]. Để có thể diễn tả được sự nóng bức đến không chịu nổi người ta dùng ví von như ngọn lửa thiêu đốt “Nóng như thiêu như đốt” [2], cũng là tả nắng nóng nhưng lại được diễn tả như cháy cả một cái đồi cây “Nắng cháy đồi” [2]. Ngược lại, hiện tượng ngừng chảy của dòng nước cũng được ví von như trạng thái vận động kết thúc của “lửa” “Họ đi chệch lên hướng Tây – Bắc và tìm thấy dấu một đường giao liên đã bỏ hóa, luồn dưới đáy những lạch suối đã tắt ngấm mạch nước” [6].

2.4.2. Từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “nước”
Hiện tượng khí tượng cũng được người Việt nhìn nhận có các vận động giống như các vận động của “nước”, (gió bấc tràn về, sương mù dâng cuồn cuộn, không khí tù đọng, mưa thuận gió hòa,…). Hiện tượng gió và sương cũng có các vận động như “nước” “Vào lúc rạng mai gió bấc tràn về bung màn cửa sổ. Bụi xám mưa phùn thổi vào buồng” [6], “Sương mù dâng cuồn cuộn và muỗi đàn đàn bu tới” [6]. Bầu không khí vận động như dòng chảy của “nước” “Không khí ẩm sánh lại, quánh ướt, từ từ lùa những ngón tay dài ngoằng lạnh toát vào bên trong bọc võng. Chảy rào rào buồn buồn, miên man như là dòng thời gian trôi thành tiếng, nghe nửa tỉnh nửa mơ” [6]. Thậm chí có khi ngưng đọng lại như trạng thái của “nước” “Còn Kiên, theo như cách anh tự biểu tượng, vẫn đang hằng đêm hóa thân thành ngọn nến leo lét cháy lên trong bầu không khí tù đọng, trong cảm giác ngột ngạt và trong những buồn đau say khướt không tài nào ai hiểu nổi của anh” [6]. Ngay cả ánh sáng cũng được diễn tả bằng các từ vận động của “nước” “Nói là nhà, chứ thật ra nó chỉ gấp đôi căn phòng tràn ánh sáng của tôi trong ngôi nhà hình hộp kiên cố ngày xưa” [11].

Như thế, các từ chỉ quá trình vận động của “lửa” và của “nước” ngoài trường hợp cùng được chuyển trường sang trường nghĩa con người, còn được chuyển trường sang cùng các trường nghĩa khác: chiến tranh, thời gian, hiện tượng khí tượng. Đó chính là những hướng chuyển trường đồng nhất giữa hai tiểu trường: quá trình vận động của “lửa” và của “nước”.

3. Sự chuyển trường khác biệt giữa hai tiểu trường
“Nước” và “lửa” là hai yếu tố tương khắc nhau trong ngũ hành nhưng như đã trình bày ở mục trên, từ thuộc hai tiểu trường có nhiều hướng chuyển trường tương đồng nhau. Bên cạnh những hướng chuyển trường tương đồng như được trình bày ở trên, từ thuộc hai tiểu trường này còn có những hướng chuyển trường khác biệt, được chúng tôi trình bày sau đây.

3.1. Sự chuyển trường riêng của “lửa”
Qua xử lý số liệu, chúng tôi thấy hướng chuyển trường riêng của từ chỉ quá trình vận động của “lửa” khác với từ chỉ quá trình vận động của “nước” là diễn tả những cung bậc khác nhau trong ý chí của con người (cháy/bùng lên một quyết tâm, mọi nỗ lực chiến đấu với bệnh tật đã tắt, ý chí của hắn đã tàn lụi).
Để diễn tả một ý chí phi thường và mãnh liệt khôn cùng, các từ thuộc trường “lửa” được chuyển trường đồng loạt trong một câu để nói hết được sức mạnh của ý chí “Sự quyết tâm đến cháy bỏng bỗng bùng lên, đến có thể thiêu đốt chính cô” [11]. Ý chí của con người cũng được thể hiện một phần thông qua những khát vọng sống và khát vọng cho một tương lai tươi đẹp, được diễn tả bởi từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “lửa” “Những người chết đã chết cả rồi, người được sống tiếp tục sống song những khát vọng nồng cháy từng là cứu cánh của cả một thời, từng soi rọi cho chúng tôi nội dung lịch sử” [6] hay là một ước mơ cho cuộc sống tươi đẹp hơn “Những ước mơ nồng cháy và những tiên cảm đau xót” [6]. Mặt khác, những cơn thịnh nộ của con người cũng là biểu hiện cụ thể của một dạng ý chí, có lúc khởi phát lên, có lúc tắt hẳn, có lúc có thể kiểm soát được và cũng có lúc mất kiểm soát “Nhìn lão cẩn trọng đếm những đồng bạc lẻ như đang lần tính những năm tháng đời mình, cơn nóng giận trong hắn chưa bùng lên thành ngọn bỗng chùng xuống và tắt ngúm” [11].

3.2. Sự chuyển trường riêng của “nước”
Ở tiểu trường các từ chỉ quá trình vận động của “nước” có hướng chuyển trường khác biệt là chuyển sang trường nghĩa tiền bạc, của cải.
Tiền bạc đã được người Việt nhận thức như thể một dòng nước, có lúc vận động, phát triển theo những hướng nhất định, như đầu tư vào chứng khoán, bất động sản trong đời sống hằng ngày “dòng tiền đang chảy vào hướng đầu tư cho bất động sản và chứng khoán”, khi nói về sự lưu thông của đồng tiền đối với cá nhân, người Việt thường nói vui với nhau “Tiền vào như nước sông Đà, tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin”. Ngược lại, khi đồng tiền bị hao hụt hay thất thu cũng được người Việt diễn tả bằng các từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “nước”: “cạn tiền”, “cạn nguồn thu”.

Trên đây chúng tôi đã trình bày các hướng chuyển trường của các từ thuộc tiểu trường quá trình vận động của “lửa” và của “nước”. Để có cái nhìn bao quát hơn về hiện tượng chuyển trường nói chung của hai tiểu trường này, chúng tôi trình bày kết quả thống kê ở các bảng dưới đây.

Bảng 2. Tỉ lệ chuyển trường của các từ trung tâm thuộc tiểu trường quá trình vận động của “lửa”
Stt Từ Lần Tỉ lệ Ví dụ trong câu
XH (%)
Tiểu trường bậc 2a. Các từ chỉ vận động duy trì và phát triển của “lửa”
1 cháy 31 24.22 1. “Những ước mơ nồng cháy và những tiên cảm đau xót” [6].
2. “Một khát khao cháy bỏng bỗng bùng lên, đến có thể thiêu đốt chính cô” [11].
2 bùng 13 10.16
3 thiêu 10 7.81
4 bốc 6 4.69
5 bén 5 3.91
Cộng 5 65 50.78  
Tiểu trường bậc 2b. Các từ chỉ quá trình vận động kết thúc của “lửa”
1 tàn 32 25 1. “Người thì với vẻ si ngốc, người thì cặp mắt rực lóe lên như sắp văng ra những tàn lửa thèm khát” [6] .
2. “Ánh hoàng hôn huy hoàng màu hồng nhạt đã tắt rồi” [6].
2 tắt 21 16.41
3 lóe 5 3.91
4 lụi 5 3.91
Cộng 4 63 49.22
Tổng 9 128 100  
 
Theo số liệu thống kê của chúng tôi trong bảng 2 ở trên, chúng ta thấy trong tiểu trường quá trình vận động của “lửa”, từ “tàn” và từ “cháy” có tỉ lệ chuyển trường cao nhất, lần lượt là 25% và 24.22%. Tiếp đến là các từ “tắt” 16.41%, “bùng” 10.16% và “thiêu” 7.81%. Cuối cùng là các từ “bốc”, “bén”, “lóe” và “lịm”.

Các từ thuộc tiểu trường chỉ sự tự vận động của “nước” đã chuyển trường được chúng tôi thống kê và phân lập trên cơ sở các từ trung tâm của tiểu trường, cụ thể xin xem thêm bảng dưới đây.

Bảng 3. Tỉ lệ chuyển trường của các từ trung tâm thuộc tiểu trường quá trình vận động của “nước”.
Stt Từ Lần Tỉ lệ Ví dụ trong câu
XH (%)
1 tràn 35 19.23 1. “Ngày càng có nhiều đại biểu muốn phát biểu và tràn lên đứng ở hàng ghế đầu” (Tọa đàm Đàn Xã Tắc: Nóng mặt và…bỏ về -tintuc24h.com.vn, 8.5.2013).
2. “Ấy vậy mà chính lúc bấy giờ, trong mùa xuân đấy, đâu đâu cũng sôi sục bầu không khí hừng hực chủ nghĩa anh hùng với nhiệt tình ái quốc” [6].
3. “Lâm râm mưa chuyện trên cành/Thì thầm lá nói trong mành nước xe” [10].
2 trôi 27 14.84
3 sôi 20 10.99
4 mưa 18 9.89
5 dâng 16 8.79
6 chảy 14 7.69
7 ngập 14 7.69
8 trào 11 6.04
9 trút 10 5.49
10 cuốn 6 3.3
11 rỉ 6 3.3
12 tuôn 5 2.75
Cộng 12 182 100  
 
Các từ thuộc tiểu trường quá trình tự vận động của “nước” chuyển trường có tỉ lệ cao là “tràn”, “trôi”, “sôi” lần lượt chiếm 19.23%, 14.84%, 10.99%, các từ có tỉ lệ cao tiếp theo là “mưa”, “dâng”, “chảy”, “ngập”, “trào”, “trút”, “cuốn”, “rỉ” và “tuôn”.

4. Kết luận
Qua các phần trình bày ở trên cho thấy, các từ chỉ quá trình vận động của “nước” và của “lửa” ngoài trường hợp được dùng với nghĩa gốc thì hầu hết được người Việt sử dụng với nét nghĩa mới trong những ngữ cảnh khác nhau, tạo ra hiện tượng chuyển trường. Hiện tượng này là phổ biến trong các từ chỉ sự vận động của “nước” và của “lửa”, khi các từ này xuất hiện trong ngữ cảnh với nghĩa mới nhưng chúng vẫn giữ được một sắc thái nghĩa nào đó của nghĩa gốc. Điều đó đã làm cho các từ thêm phong phú về nội dung biểu đạt và thể hiện được cách tri nhận sự việc của người Việt. Đồng thời gợi ra cho người nghe những liên tưởng có liên quan đến yếu tố “nước” và “lửa”. Hiện tượng này góp thêm phần khẳng định tính đa trị trong ngôn ngữ. Hơn nữa, sự chuyển trường còn làm cho tiếng Việt nói chung hay các từ chỉ quá trình vận động của “nước” và của “lửa” nói riêng càng thêm hàm súc, linh hoạt. Và củng cố cho nhận định rằng, việc lĩnh hội ngôn ngữ là cả một quá trình tư duy phức hợp mang sắc thái riêng của văn hóa tộc người, tư duy và quy luật của ngôn ngữ.
Một điều đặc biệt nữa là các từ chỉ vận động của “lửa”, của “nước nói riêng, và thuộc cả hai trường nghĩa nói chung, có thể chuyển sang nhiều trường nghĩa khác (con người, chiến tranh, thời gian…) nhưng không có sự chuyển trường qua lại của các từ thuộc hai trường nghĩa với nhau tuy có một số từ dùng chung cho cả hai trường nghĩa: tỏa (lửa, nước), ngọn (lửa, nước). Điều đó phù hợp với tính chất đối nghịch từ bản chất của hai dạng vật chất: “lửa” và “nước”.
 
(1) Các từ chỉ quá trình vận động của “lửa” (của “nước”) còn được gọi là tiểu trường, trong tương quan với trường nghĩa “lửa” (trường nghĩa “nước”) của chúng tôi đã được in trên tạp chí Ngôn ngữ số 12 năm 2014.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tiếng Việt
1. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb, Giáo dục, H.
2. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb, ĐHQG, HN.
3. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb, GD.
4. Lê Quang Thiêm (2008), Ngữ nghĩa học (tập bài giảng), Nxb, GD, HN.
5. Bùi Minh Toán (1999), Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Nxb, GD.
6. Bùi Minh Toán (2012), Lửa trong Truyện Kiều, t/c TĐH & BKT số 3.
7. Nguyễn Đức Tồn (2008), Đặc trưng văn hóa – Dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nxb, KHXH.
II. Tiếng Anh
8. Adrienne Lehrer, Eva Feder Kittay (1992), Frames, Fields, and Contrast (New Essay in Semantic and Lexical Organization), Lawrence Erlbaum Associates, Publishers Hillsdate, New Jersey Hove and London.
9. Dirk Geeraerts (2010), Theories of Lexical Semantics, Oxford University Press.
10. Grzegorz A. Kleparski, Angelina Rusinek (2007), The tradition of field theory and the study of lexical semantic change, Zeszyt, volume 47, pp. 187-205; 

NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN
1. Phong Châu (2008), Câu đối Việt Nam, Nxb, Văn học
2. Vũ Dung – Vũ Thúy Anh –Vũ Quang Hào (2000), Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt Nam, Nxb, VHTT.
3. Hồ Xuân Hương – Thơ (2010), Nxb, Văn học
4. Trần Đăng Khoa (2008), Góc sân và khoảng trời, Nxb. Văn hóa Sài Gòn
5. Nguyễn Khuyến – Thơ (Ngân Hà tuyển chọn) (2009), Nxb, VH-TT.
6. Bảo Ninh (2005), Tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, Nxb, Hội nhà văn.
7. Vũ Ngọc Phan (2003), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb, Văn học.
8. Thơ Huy Cận (2008), Nxb, Thanh Niên
9. Thơ Tố Hữu (2008), Nxb, Văn hóa Sài Gòn.
10. Thơ tình Xuân Diệu tuyển chọn (2008), Nxb, Thanh Niên.
11. Truyện ngắn 5 cây bút nữ (2004), Nxb, Hội nhà văn.
12. Hàn Mặc Tử - Thơ (2008), Nxb, Văn học
13. Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh - Thơ (2008), Nxb, Văn hóa Sài Gòn
 
Nguồn: Kỉ yếu hội thảo Quốc gia: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, Nxb. Dân trí, tháng 6/2016, tr433-446
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây